Chuyển đến nội dung

Monday – Friday: 9:00 AM – 6:00 PM

THÔNG TƯ 45 & THÔNG TƯ 99: NHỮNG NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN TÀI SẢN DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

admin 11 phút đọc

Chi phí sửa chữa tài sản cố định hạch toán vào đâu? Quy định về chi phí sửa chữa TSCĐ theo Thông tư 45 như thế nào?

1. Sửa chữa tài sản cố định là gì?
Theo khoản 13 Điều 2 Thông tư 45/2013/TT-BTC, sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ) là việc duy tu, bảo dưỡng, thay thế hoặc sửa chữa các hư hỏng phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm khôi phục năng lực hoạt động của tài sản về trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu.
2. Chi phí sửa chữa tài sản cố định được hạch toán như thế nào?
Căn cứ Điều 7 Thông tư 45/2013/TT-BTC, việc hạch toán chi phí sửa chữa TSCĐ được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

  • Hạch toán trực tiếp vào chi phí kinh doanh trong kỳ: Doanh nghiệp có thể ghi nhận trực tiếp chi phí sửa chữa TSCĐ vào chi phí kinh doanh của kỳ phát sinh.
  • Phân bổ dần vào chi phí kinh doanh: Trường hợp chi phí sửa chữa cần được phân bổ qua nhiều kỳ, doanh nghiệp được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh, với thời gian phân bổ tối đa không quá 3 năm.
  • Đối với TSCĐ có hoạt động sửa chữa mang tính chu kỳ: Doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí hằng năm. Khi chi phí sửa chữa thực tế phát sinh lớn hơn số đã trích theo dự toán, phần chênh lệch được tính bổ sung vào chi phí hợp lý theo quy định. Ngược lại, nếu chi phí thực tế thấp hơn số đã trích, phần chênh lệch được hạch toán giảm chi phí kinh doanh trong kỳ.

3. Lưu ý khi hạch toán chi phí sửa chữa TSCĐ
Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 45/2013/TT-BTC, chi phí sửa chữa TSCĐ không được tính tăng nguyên giá tài sản cố định mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo quy định.
Kết luận: Chi phí sửa chữa TSCĐ được hạch toán trực tiếp vào chi phí kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh với thời gian tối đa không quá 3 năm. Đối với TSCĐ có hoạt động sửa chữa mang tính chu kỳ, doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán và xử lý phần chênh lệch giữa số trích trước với chi phí thực tế theo quy định tại Điều 7 Thông tư 45/2013/TT-BTC.

Quy định về chi phí đầu tư nâng cấp, sửa chữa tài sản cố định theo Thông tư 45

Căn cứ Điều 7 Thông tư 45/2013/TT-BTC, việc ghi nhận chi phí đầu tư nâng cấp và sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ) tại doanh nghiệp được thực hiện theo các quy định sau:
[1] Đối với chi phí đầu tư nâng cấp tài sản cố định
Các khoản chi phí phát sinh để đầu tư nâng cấp TSCĐ được ghi nhận tăng nguyên giá của tài sản đó. Doanh nghiệp không được hạch toán các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
[2] Đối với chi phí sửa chữa tài sản cố định
Chi phí sửa chữa TSCĐ không được tính vào nguyên giá tài sản mà được hạch toán trực tiếp vào chi phí kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh, với thời gian phân bổ tối đa không quá 3 năm.
Đối với TSCĐ có hoạt động sửa chữa mang tính chu kỳ, doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí hằng năm. Khi chi phí sửa chữa thực tế lớn hơn số đã trích theo dự toán, doanh nghiệp được tính bổ sung vào chi phí hợp lý phần chênh lệch. Trường hợp chi phí sửa chữa thực tế thấp hơn số đã trích, phần chênh lệch phải được hạch toán giảm chi phí kinh doanh trong kỳ.
[3] Đối với chi phí phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu của tài sản cố định vô hình
Các chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau thời điểm ghi nhận ban đầu, nếu được đánh giá một cách chắc chắn là làm tăng lợi ích kinh tế của tài sản so với mức hoạt động ban đầu, thì được ghi nhận tăng nguyên giá TSCĐ vô hình.
Đối với các khoản chi phí khác liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu nhưng không đáp ứng điều kiện nêu trên, doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
Lưu ý: Doanh nghiệp cần phân biệt rõ chi phí đầu tư nâng cấp và chi phí sửa chữa TSCĐ để xác định cách ghi nhận phù hợp: chi phí nâng cấp được tính tăng nguyên giá TSCĐ, trong khi chi phí sửa chữa được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ vào chi phí kinh doanh theo quy định.

Nguyên tắc kế toán tài sản cố định, bất động sản đầu tư và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang theo Thông tư 99/2025/TT-BTC

Căn cứ Mục B Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 99/2025/TT-BTC, việc kế toán tài sản cố định (TSCĐ), bất động sản đầu tư (BĐSĐT) và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) dở dang tại doanh nghiệp được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
[1] Quản lý và sử dụng tài sản
TSCĐ, BĐSĐT và chi phí đầu tư XDCB dở dang phải được theo dõi, quản lý, sử dụng và quyết toán theo đúng quy định của pháp luật hiện hành có liên quan.
[2] Theo dõi nguồn hình thành và phân bổ hao mòn TSCĐ
Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết nguồn hình thành TSCĐ để phân bổ giá trị khấu hao, hao mòn phù hợp với từng trường hợp, cụ thể:

  • Đối với TSCĐ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, giá trị hao mòn được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
  • Đối với TSCĐ hình thành từ Quỹ phúc lợi hoặc Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, giá trị hao mòn được ghi giảm quỹ đã sử dụng để hình thành TSCĐ đó.

[3] Phân loại TSCĐ và BĐSĐT theo mục đích sử dụng
Việc phân loại TSCĐ và BĐSĐT phải căn cứ vào mục đích sử dụng thực tế của tài sản. Đối với tài sản được sử dụng đồng thời cho nhiều mục đích, doanh nghiệp cần xác định giá trị hợp lý của từng bộ phận hoặc áp dụng tiêu thức phân bổ phù hợp hơn để ghi nhận đúng bản chất sử dụng.
Ví dụ, đối với tòa nhà hỗn hợp vừa làm văn phòng, vừa cho thuê và có một phần dùng để bán, doanh nghiệp phải xác định giá trị các bộ phận theo mục đích sử dụng tương ứng.
Đối với các hạng mục công trình dùng chung như thang máy, hệ thống điều hòa, hầm để xe,… khi vừa phục vụ mục đích sử dụng nội bộ vừa phục vụ hoạt động cho thuê, doanh nghiệp được phân loại các tài sản dùng chung là TSCĐ hoặc BĐSĐT theo tiêu thức phù hợp nhất với từng công trình.
Ngoài ra, việc phân loại tài sản được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

  • Nếu một bộ phận trọng yếu hoặc phần lớn các bộ phận của tài sản được sử dụng cho một mục đích cụ thể khác với mục đích sử dụng của các bộ phận còn lại, doanh nghiệp có thể căn cứ vào mức độ trọng yếu để phân loại toàn bộ tài sản theo mục đích sử dụng của bộ phận trọng yếu đó.
  • Khi chức năng sử dụng của các bộ phận tài sản thay đổi, doanh nghiệp được phân loại lại tài sản theo mục đích sử dụng phù hợp với quy định của các chuẩn mực kế toán Việt Nam có liên quan.

[4] Ghi nhận TSCĐ mua kèm sản phẩm, thiết bị, phụ tùng thay thế
Khi mua TSCĐ và được nhận kèm sản phẩm, thiết bị, phụ tùng thay thế,… doanh nghiệp phải phân bổ giá phí giữa TSCĐ chính và các tài sản nhận kèm theo giá trị hợp lý tương ứng của từng tài sản tại ngày mua.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể xác định và ghi nhận riêng giá trị hợp lý của các tài sản được tặng kèm, sau đó trừ giá trị này khỏi giá mua để xác định nguyên giá TSCĐ chính, tùy theo phương pháp phù hợp hơn với doanh nghiệp.
Riêng đối với thiết bị, phụ tùng thay thế chuyên dùng được nhận kèm, chỉ có thể sử dụng cùng TSCĐ chính để dự phòng trường hợp tài sản chính bị hỏng đột ngột và không còn giá trị sử dụng khi TSCĐ chính được thanh lý, nhượng bán hoặc khấu hao hết, doanh nghiệp không phải xác định và ghi nhận riêng giá trị các tài sản này. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết về số lượng, tính chất của tài sản nhận kèm và trình bày thông tin trên Thuyết minh Báo cáo tài chính.

[5] Kế toán TSCĐ, BĐSĐT mua theo phương thức trả chậm, trả góp
Đối với TSCĐ và BĐSĐT mua theo phương thức trả chậm, trả góp, doanh nghiệp thực hiện các nguyên tắc sau:

  • Xác định nguyên giá: Nguyên giá được xác định theo giá mua trả tiền ngay cộng với các chi phí liên quan trực tiếp được tính vào nguyên giá TSCĐ đến thời điểm tài sản sẵn sàng hoạt động theo cách thức dự định của doanh nghiệp, không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại.
  • Hạch toán lãi trả chậm, trả góp: Khoản lãi trả chậm, trả góp được ghi nhận vào chi phí tài chính của từng kỳ hoặc được vốn hóa theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 16 – Chi phí đi vay.
  • Trường hợp hợp đồng quy định cụ thể khoản lãi: Doanh nghiệp căn cứ vào nội dung hợp đồng để xác định và tách riêng phần lãi trả chậm, trả góp tương ứng với từng kỳ.
  • Trường hợp hợp đồng không quy định cụ thể khoản lãi và thời hạn trả chậm, trả góp trên 12 tháng: Doanh nghiệp bắt buộc phải tách riêng phần lãi trả chậm, trả góp. Khoản lãi được xác định dựa trên chênh lệch giữa giá mua trả chậm, trả góp và giá mua trả tiền ngay để xác định lãi suất ngầm định, làm cơ sở ghi nhận và hạch toán.

Định kỳ, căn cứ vào khoản lãi trả chậm, trả góp, doanh nghiệp ghi nhận khoản phải trả người bán tương ứng với chi phí tài chính phát sinh trong từng kỳ. Thông tin về tiền lãi trả chậm, trả góp khi mua TSCĐ, BĐSĐT phải được theo dõi chi tiết trên sổ kế toán và thuyết minh trên Báo cáo tài chính.
[6] Xác định giá trị TSCĐ khi góp vốn
Khi sử dụng TSCĐ để góp vốn, việc xác định giá trị vốn góp phải tuân thủ quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Các bên liên quan chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố ý định giá hoặc xác định không đúng giá trị TSCĐ mang đi góp vốn.
[7] Kế toán tài sản kết cấu hạ tầng và tài sản công được giao quản lý
Đối với doanh nghiệp được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng hoặc các tài sản công khác không tính vào thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bao gồm cả tài sản trực tiếp và không trực tiếp khai thác, sử dụng, việc áp dụng tài khoản kế toán, ghi sổ kế toán và lập báo cáo phải tuân thủ quy định pháp luật hiện hành có liên quan đối với các tài sản này.
[8] Kế toán TSCĐ, BĐSĐT và chi phí đầu tư XDCB liên quan đến ngoại tệ
Việc kế toán các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ đối với TSCĐ, BĐSĐT và chi phí đầu tư XDCB được thực hiện theo hướng dẫn tại Tài khoản 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
Lưu ý: Doanh nghiệp cần căn cứ vào mục đích sử dụng, nguồn hình thành, phương thức mua sắm và đặc điểm của từng tài sản để thực hiện ghi nhận, phân loại, theo dõi và trình bày thông tin kế toán phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Thông tư 99/2025/TT-BTC.